Giáo sư Trần Văn Khê là nhà
dân tộc nhạc học lớn của dân tộc Việt Nam
Bao nhiêu năm trời, bao nhiêu chuyến đi, bao nhiêu diễn đàn và giảng đường
ông đă từng thuyết tŕnh, biểu diễn, thỉnh giảng! Khó biết được chính xác
trong một đời làm thầy của ḿnh, ông đă có bao nhiêu học tṛ từ khắp các
châu lục với đủ các màu da, đủ các lứa tuổi, kể cả nhiều người không được
cái may theo học chính thức, nhưng vẫn tự coi ḿnh là môn sinh, là đệ tử,
là tín đồ của ông - nhà dân tộc nhạc học Trần Văn Khê.
Mỗi chuyến đi về Hà Nội trong mấy năm gần đây, giáo sư Trần Văn Khê đều cố
sắp xếp chương tŕnh làm việc căng thẳng về nhịp độ và eo hẹp về thời gian
của ḿnh, để có ít nhất một buổi nói chuyện với Viện Âm nhạc - nơi ông sẵn
ḷng làm ông thầy tự nguyện cho những môn sinh tự nguyện.
Lần này như mọi lần, hễ cứ nói về nhạc là ông “say” đến độ quên hết sự đời,
khiến người nghe cũng quên luôn tuổi tác của người nói, quên cả chuyện ông
vừa mới trải qua hai cơn bạo bệnh - cơn đau tại Pháp mới dứt đă tiếp ngay
đến đợt ốm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hai trận “thập tử nhất sinh” năm nay
đă làm suy yếu tim mạch và hao tổn nhiều sức lực của ông, nhưng vẫn không
chút mảy may đụng chạm đến trí nhớ tuyệt vời ở ông, đến tinh thần tử v́
đạo của một người “truyền đạo nhạc” như ông tự gọi ḿnh.
Câu chuyện bắt đầu bằng thang âm điệu thức râga của Ấn Độ. “Râga là ǵ?”,
ngay các bậc kỳ tài về râga ở ấn độ cũng không có câu trả lời cụ thể nào
cả. Chẳng phải ngẫu nhiên một nghệ nhân Ấn Độ đă định nghĩa như không định
nghĩa: “Râga là tôi!”, bởi mỗi người hát râga đều có “cái hồn” riêng dù
không khi nào đi chệch khỏi những nguyên tắc chung.
Râga theo giáo sư Trần Văn Khê đến với chúng tôi vừa bằng con đường giải
thích cụ thể và khoa học, vừa sống động qua những đường nét giai điệu đặc
biệt ấn tượng của nó, qua lối phát triển gợi nhớ đến những con sóng triền
miên nối nhau tràn lên rồi rút xuống và cứ thế lần lần theo thủy triều
dâng tới đỉnh cao nhất. Điểm thêm những truyền thuyết về tính sâu sắc, cao
siêu và bí hiểm của âm nhạc Ấn Độ, “bắt” mọi người cùng tập hát theo thang
âm điệu thức râga và gơ nhịp theo những tiết tấu không đơn điệu, đấy là
những “chiêu” nhẹ nhàng hóa bài giảng của nhà truyền đạo.
Nhưng “chiêu độc” hơn cả, cái điều quan trọng nhất mà nhà truyền đạo muốn
dẫn đến vẫn là kết luận cuối cùng: học cái hay của người ta để vận dụng
theo cách của ḿnh. Rồi ông lập tức ngẫu hứng một đoạn “rao” điệu thức
Việt Nam theo nguyên tắc phát triển của râga Ấn Độ, nghĩa là không quá
thật thà “có bao nhiêu đứa con ào ào lôi ra bằng hết”, mà từ từ giới thiệu
tính cách từng “đứa”- từng bậc trong thang âm theo kiểu “tuần tự nhi tiến”
từ thấp tới cao, mỗi bậc như mỗi đứa con đều được chăm sóc chu đáo, được
tô điểm đâu ra đấy bằng những nét nhạc luyến láy đặc thù. Cách rao này
nghe lạ mà vẫn thật Việt Nam!
Đây chính là tư tưởng “mở cửa” mà biết giữ cho ḿnh vẫn là ḿnh, một điểm
mấu chốt trong giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, giữa các quốc gia, cũng
như giữa hai phương trời tưởng như chẳng bao giờ gặp nhau: Đông và Tây.
Gặp gỡ, trao đổi, giao lưu, ḥa nhập, liên kết, liên ngành... là những
điều ngày càng được luận bàn nhiều hơn trên diễn đàn văn hóa nghệ thuật.
Gần đây, trong cái phạm trù thể hiện t́nh đoàn kết mang tính toàn cầu này
c̣n xuất hiện thêm cụm từ mới: “giao diện”. Giao diện giữa khoa học tự
nhiên và xă hội, giữa các ngành khác nhau trong khoa học xă hội nhân văn
để có cái nh́n đa diện về đối tượng nghiên cứu. Giao diện văn hóa nghệ
thuật để đối chiếu, hiểu biết lẫn nhau, gợi mở và làm giàu thêm cho nhau
giữa các dân tộc, các vùng địa lư khác nhau. Giao diện giữa các thế hệ,
giữa các nhà nghiên cứu già và trẻ, giữa kinh nghiệm dày dặn tích tụ trong
nhiều năm và sức trẻ năng nổ nhạy bén. Nếu cần gói gọn trong một cụm từ,
th́ rất có thể mượn từ “giao diện” này để chỉ ư nghĩa, nội dung và mục
đích của những buổi chuyện tṛ tại Viện Âm nhạc của giáo sư Trần Văn Khê.
Ông như cố tận dụng quỹ thời gian quư giá c̣n lại của ḿnh, truyền đạt
càng nhiều càng tốt những ǵ ông có được trong cuộc đời đi nhiều biết
nhiều của ḿnh. Bao điều được gửi gắm trong bầu không khí anh - em, cha -
con, bác - cháu, từ quan điểm và phương pháp nghiên cứu vừa mang tính
“giao diện”, vừa sâu sắc về học thuật, đến kinh nghiệm sưu tầm điền dă
biết “trước khi xin phi cho”, biết làm cho nghệ nhân tự nguyện “mở cửa
ḷng”; từ cách tự học luôn liên hệ đa chiều “học một biết ba”, đến lối dạy
học b́nh đẳng với tṛ, “kích” tṛ đối thoại với thầy, không để tṛ thụ
động nhất nhất “theo đuôi” thầy, mà c̣n biết nói ngược lại, thậm chí biết
“căi” thầy nữa.
Ông luôn kiểm nghiệm và mở rộng thêm sự hiểu biết vốn đă sâu rộng ở ông
qua công việc dạy học, trong lúc truyền đạt tư tưởng của ḿnh cho tṛ. Có
lẽ vậy nên sau mỗi cuộc “truyền đạo” thật quá sức với tuổi cao niên, ông
vẫn rất vui và hẹn đến lần gặp tới. Ḷng chợt se lại, mơ hồ một nỗi lo khi
bắt gặp dáng đi chậm hơn, bước chân nặng hơn của nhà truyền đạo nhạc chưa
từng biết mệt mỏi của chúng tôi.
Chẳng bao giờ được chính thức là học tṛ của ông, nhưng tôi đă nhận được
từ ông thật nhiều, trong đó có tấm ḷng của một người thầy và cả bài học
làm thầy.
Nguyễn Thị Minh Châu